Lên dây đàn nguyệt, đàn kìm online
Đàn nguyệt, ở Nam Bộ gọi là đàn kìm hay đờn kìm, có hai dây buông. Trang đặt sẵn dây Bắc, quãng 5 đúng: dây trầm C3 (130,81 Hz), dây cao G3 (196 Hz). Theo luận án của Cồ Huy Hùng (2016), trong chèo, ca Huế và cải lương, dây cao được lấy bằng âm Sol quãng tám nhỏ, tức G3.
Nốt và tần số hai dây đàn nguyệt
Đàn nguyệt: dây cao ở G3 (Sol quãng tám nhỏ theo Cồ Huy Hùng 2016); dây trầm là C3 ở dây Bắc hoặc D3 ở dây Nam, suy ra từ quãng. Tần số bình quân với La4 = 440 Hz.
| Kiểu lên dây · dây | Nốt | Tần số (Hz) |
|---|---|---|
| Dây Bắc · dây trầm | C3 | 130,81 |
| Dây Bắc · dây cao | G3 | 196,00 |
| Dây Nam · dây trầm | D3 | 146,83 |
| Dây Nam · dây cao | G3 | 196,00 |
Cách sử dụng
- Chạm Bật micro rồi chọn Dây Bắc hoặc Dây Nam.
- Gảy dây cao (dây nhỏ, nằm dưới khi ôm đàn) bằng móng gảy, không chạm phím, và vặn trục tới G3.
- Chạm Dây trầm và lên tới C3 (dây Bắc) hoặc D3 (dây Nam). Phím đàn rất cao, chỉ ấn nhẹ là nốt đã lên, nên đừng chạm phím khi đo.
- Kiểm tra bằng phím: ở dây Nam, dây trầm bấm phím 2 phải trùng dây cao buông; ở dây Bắc là phím 3.
Trợ giúp và giải thích
Kiểu thứ hai là dây Nam (dây Oán, dây hò tư ở Nam Bộ, dây bằng trong hát văn): quãng 4 đúng, dây cao vẫn là G3, dây trầm lên Rê, tức D3 khi tính quãng 4 dưới G3. Cùng luận án ghi rằng ngày nay đa số nghệ sĩ chơi nhạc tài tử dùng dây Nam. Fa–Đô, Sol–Đô trong sách là tên tương đối; các mục tiêu ở đây là quy ước với La = 440 Hz.
Dây trầm, dây cao và các tên gọi
Dây trầm còn gọi là dây to, dây trong, dây tồn; dây cao là dây nhỏ, dây ngoài, dây tang. Cách đánh số dây 1, dây 2 khác nhau tùy sách, nên trang dùng tên dây trầm và dây cao. Trong cách đọc tương đối, dây cao luôn là Đô; dây trầm là Fa ở dây Bắc (quãng 5), Sol ở dây Nam (quãng 4), Rê ở dây Tố Lan (quãng 7 thứ). Ở Nam Bộ, các tên hò nhứt, hò nhì, hò tư cho biết Hò rơi vào đâu so với giọng hát; đó không phải những tông cố định.
Hát văn, Tố Lan và nốt nhấn
Hát văn thường lên dây thấp hơn chèo và cải lương, với bộ dây to và chùng. Cao độ này chỉ có một luận án ghi lại, nên trang không đặt sẵn mục tiêu riêng. Dây Tố Lan (quãng 7 thứ), Ly Tao (quãng 2 trưởng) hay song thanh (quãng 8) cũng chỉ được ghi theo quãng. Với các kiểu này, hãy lên dây cao theo giọng rồi dùng máy lên dây chromatic cho dây trầm.
Phím đàn nguyệt theo ngũ cung, có bậc non bậc già, và kỹ thuật nhấn cố ý đẩy nốt lên. Vì vậy máy chỉ đáng tin ở dây buông; các nốt bấm và nhấn là việc của tai.
Mẹo
- Dây nylon chùng giãn nhiều: sau khi thay dây, lên lại nhiều lần và luôn đi từ dưới lên tới nốt.
- Không bóp đoạn dây giữa trục và đầu cần khi đo, vì chỗ đó cũng làm đổi cao độ.
- Đệm cho người hát: giữ nguyên quãng giữa hai dây rồi nâng hoặc hạ cả hai cùng lúc.
Câu hỏi thường gặp
Đàn nguyệt lên dây nốt gì?
Dây Bắc: dây trầm C3, dây cao G3 (quãng 5). Dây Nam, dây Oán: D3 và G3 (quãng 4). Với La = 440 Hz là 130,81 hoặc 146,83 Hz cho dây trầm và 196 Hz cho dây cao.
Dây Bắc hay dây Nam được dùng nhiều hơn?
Dây Bắc là kiểu căn bản, được tài liệu nhắc tới nhiều. Theo Cồ Huy Hùng, nhạc tài tử ngày nay chủ yếu dùng dây Nam (quãng 4); hát văn cũng chuộng quãng 4 nhưng ở cao độ thấp hơn.
Dây bằng và dây lệch là gì?
Trong hát văn, dây bằng là quãng 4 (sol–đô) và dây lệch là quãng 5 (fa–đô). Một số trang mạng ghi ngược lại.
Dùng chế độ guitar của máy lên dây cho đàn nguyệt được không?
Không nên. Chế độ guitar chờ sáu dây E A D G B E và sẽ báo sai dây; dây trầm C3 của dây Bắc cũng không trùng dây guitar nào. Hãy dùng trang này hoặc máy lên dây chromatic.